Lấy ý kiến trẻ em về hiến mô, tạng: ranh giới giữa quyền tham gia, năng lực nhận thức và trách nhiệm bảo vệ của pháp luật
Nội dung chính
- ĐẶT VẤN ĐỀ – TRẺ EM CÓ ĐỦ KHẢ NĂNG QUYẾT ĐỊNH ĐỐI VỚI THÂN THỂ MÌNH?
- I. BỐI CẢNH LẬP PHÁP VÀ NỘI DUNG ĐANG ĐƯỢC ĐỀ XUẤT
- II. CƠ SỞ HIẾN ĐỊNH VÀ NGHĨA VỤ BẢO VỆ TRẺ EM
- III. PHÂN BIỆT QUYỀN THAM GIA VỚI NĂNG LỰC ĐƯA RA QUYẾT ĐỊNH CÓ HIỆU LỰC PHÁP LÝ
- IV. PHẢN BIỆN PHƯƠNG PHÁP LẤY Ý KIẾN TRẺ EM TỪ 7 TUỔI
- V. XUNG ĐỘT LỢI ÍCH GIỮA CHA MẸ, NGƯỜI ĐẠI DIỆN VÀ TRẺ EM
- VI. PHÂN BIỆT HIẾN TẠNG SỐNG VỚI HIẾN MÔ TÁI SINH
- VII. CHUẨN MỰC QUỐC TẾ: WHO VÀ KINH NGHIỆM BẢO VỆ TRẺ HIẾN
- VIII. HIẾN SAU KHI CHẾT: MỘT VẤN ĐỀ PHÁP LÝ KHÁC
- IX. PHẢN BIỆN CÁC LẬP LUẬN ỦNG HỘ MỞ RỘNG ĐỐI TƯỢNG HIẾN
- X. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN DỰ THẢO LUẬT
- XI. KẾT LUẬN – KHÔNG THỂ CHUYỂN TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ TRẺ EM SANG CHÍNH TRẺ EM
- TÀI LIỆU PHÁP LÝ VÀ CHUYÊN MÔN THAM KHẢO
ĐÁNH GIÁ VÀ PHẢN BIỆN PHÁP LÝ CHUYÊN SÂU ĐỐI VỚI DỰ THẢO LUẬT HIẾN, LẤY, GHÉP MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI (SỬA ĐỔI)
Luận điểm trung tâm: Không thể lấy sự đồng thuận mang tính cảm xúc của trẻ em để thay thế trách nhiệm đánh giá chính sách của Nhà nước, trách nhiệm chuyên môn của ngành y tế và trách nhiệm bảo vệ người chưa thành niên của pháp luật.
ĐẶT VẤN ĐỀ – TRẺ EM CÓ ĐỦ KHẢ NĂNG QUYẾT ĐỊNH ĐỐI VỚI THÂN THỂ MÌNH?
Việc Bộ Y tế tổ chức lấy ý kiến người chưa thành niên, trong đó có trẻ từ 7 tuổi, đối với dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) đặt ra một vấn đề pháp lý và đạo đức y sinh đặc biệt quan trọng: Liệu trẻ em có đủ khả năng nhận thức để đưa ra ý kiến về chính sách liên quan trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng và sức khỏe hay không?
Vấn đề cần đặc biệt lưu ý là nguy cơ trẻ em bị tác động, chịu áp lực hoặc không đủ khả năng đánh giá hậu quả lâu dài của việc hiến tặng khi đề xuất mở rộng đối tượng hiến mô, tạng đối với người dưới 18 tuổi.
Hiến mô, tạng để cứu sống người bệnh là nghĩa cử nhân đạo cao đẹp. Tuy nhiên, mục tiêu nhân đạo không đương nhiên hợp pháp hóa mọi phương thức thực hiện. Với người chưa thành niên, pháp luật không chỉ ghi nhận quyền tự do ý chí mà còn phải thiết lập giới hạn bảo vệ khi cá nhân chưa có đầy đủ khả năng nhận thức, kiểm soát và tự bảo vệ lợi ích của mình.
Cần phân biệt ba hoạt động có bản chất pháp lý riêng: (1) lấy ý kiến trẻ em khi xây dựng luật; (2) cho phép người chưa thành niên hiến mô khi còn sống; (3) ghi nhận nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết.
Bảng 1. Ba nhóm vấn đề không thể đánh đồng
| Nội dung | Bản chất pháp lý | Vấn đề phải kiểm soát |
|---|---|---|
| Lấy ý kiến trẻ em về dự thảo luật | Quyền tham gia xây dựng chính sách | Phương pháp, độ tuổi, mức độ hiểu và mục đích sử dụng kết quả |
| Hiến mô tái sinh khi đang sống | Can thiệp y khoa vào thân thể người hiến | Tính cần thiết, nguy cơ sức khỏe, sự tự nguyện, xung đột lợi ích |
| Ghi nhận nguyện vọng hiến sau khi chết | Quyền nhân thân và ý chí hiến tặng | Hiệu lực nguyện vọng, quyền rút lại, vai trò người đại diện, xác định chết độc lập |
I. BỐI CẢNH LẬP PHÁP VÀ NỘI DUNG ĐANG ĐƯỢC ĐỀ XUẤT
Ngày 21/10/2026, Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi). Theo thông tin Bộ Y tế công bố, dự thảo nghiên cứu mở rộng nguồn hiến, trong đó có những nội dung liên quan đến người dưới 18 tuổi; đồng thời phân biệt hiến khi còn sống và hiến sau khi chết não hoặc chết tuần hoàn.
Đối với người dưới 18 tuổi còn sống, dự thảo không cho phép hiến những bộ phận cơ thể như thận, một phần gan hoặc các bộ phận cơ thể khác. Tuy nhiên, dự thảo đề xuất ngoại lệ đối với một số loại mô tái sinh, chủ yếu là tế bào gốc tạo máu, trong những trường hợp giới hạn. Theo nội dung được giải thích ngày 27/10/2026, phạm vi đề xuất có thể khác nhau giữa người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi và người dưới 15 tuổi, tùy loại mô và quan hệ gia đình; cần đối chiếu phiên bản dự thảo chính thức để xác định từng điều kiện cụ thể.
Đối với việc hiến sau khi chết não hoặc chết tuần hoàn, dự thảo đặt ra cơ chế đăng ký hoặc ghi nhận nguyện vọng hiến của người chưa thành niên, gắn với sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ. Những đề xuất này có phạm vi và hệ quả pháp lý khác nhau, không thể đánh giá đồng nhất.
Bộ Y tế giải thích rằng việc lấy ý kiến trẻ em nhằm thực hiện quyền tham gia xây dựng chính sách liên quan đến trẻ, không phải hoạt động vận động trẻ em hiến tạng. Nếu việc lấy ý kiến chỉ nhằm thực hiện quyền tham gia chính sách, kết quả khảo sát phải được giới hạn đúng mục đích tham vấn, không thể sử dụng như bằng chứng cho thấy trẻ đủ nhận thức để quyết định hiến mô, tạng.
II. CƠ SỞ HIẾN ĐỊNH VÀ NGHĨA VỤ BẢO VỆ TRẺ EM
1. Điều 20 Hiến pháp năm 2013: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 xác lập quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Việc lấy mô, bộ phận cơ thể, ngay cả nhằm cứu chữa bệnh, vẫn là can thiệp trực tiếp vào thân thể con người.
Với người trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, sự đồng ý tự nguyện sau khi được cung cấp thông tin đầy đủ là điều kiện pháp lý quan trọng. Đối với người chưa thành niên, sự đồng ý phải được xem xét cùng năng lực nhận thức, mức độ trưởng thành và giới hạn luật chuyên ngành. Việc có người đại diện không trao cho người đại diện quyền quyết định vô hạn đối với cơ thể của trẻ.
2. Điều 37 Hiến pháp: Quyền tham gia gắn với quyền được bảo vệ
Điều 37 Hiến pháp năm 2013 vừa bảo đảm quyền bảo vệ, chăm sóc, giáo dục, vừa ghi nhận quyền tham gia của trẻ em. Quyền tham gia không đứng độc lập với quyền được bảo vệ. Khi tham vấn một vấn đề có tính chuyên môn cao, cơ quan lập pháp phải chọn phương pháp phù hợp với mức phát triển của đối tượng.
Không thể chỉ căn cứ vào việc pháp luật công nhận quyền tham gia để mặc nhiên kết luận rằng mọi hình thức lấy ý kiến trực tiếp đều phù hợp với trẻ em ở mọi độ tuổi.
Bảng 2. Những căn cứ pháp lý có ý nghĩa trực tiếp
| Căn cứ | Nội dung trọng tâm | Giá trị trong phản biện |
|---|---|---|
| Hiến pháp 2013, Điều 20 | Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, bảo hộ sức khỏe | Giới hạn các can thiệp vào cơ thể và yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt |
| Hiến pháp 2013, Điều 37 | Bảo vệ trẻ em và quyền trẻ tham gia vấn đề liên quan | Phải thực hiện hai yêu cầu đồng thời |
| Bộ luật Dân sự 2015, Điều 21 | Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên | Bày tỏ ý kiến không đồng nghĩa năng lực đồng ý hiến |
| Bộ luật Dân sự 2015, Điều 136, 141 | Đại diện theo pháp luật; phạm vi đại diện | Cha mẹ không có quyền định đoạt vô hạn; cần xử lý xung đột lợi ích |
| Luật Trẻ em 2016, Điều 5, 74 | Nguyên tắc bảo đảm quyền trẻ em; tham gia xây dựng chính sách | Phương pháp tham vấn phải phù hợp độ tuổi |
| Luật số 75/2006/QH11, Điều 5 và khoản 5 Điều 11 | Ngưỡng 18 tuổi và cấm lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống dưới 18 tuổi | Sửa giới hạn bảo vệ phải có căn cứ và giải trình riêng |
| Công ước về quyền trẻ em, Điều 3, 12 | Lợi ích tốt nhất và xem xét ý kiến theo tuổi, mức trưởng thành | Không đồng nhất tiếng nói của trẻ với quyết định có hiệu lực |
| WHO Guiding Principle 4 | Hạn chế lấy mô, tạng ở người chưa thành niên đang sống; ngoại lệ hẹp | Cần quyền phản đối và giám sát độc lập |
III. PHÂN BIỆT QUYỀN THAM GIA VỚI NĂNG LỰC ĐƯA RA QUYẾT ĐỊNH CÓ HIỆU LỰC PHÁP LÝ
1. Điều 5 và Điều 74 Luật Trẻ em năm 2016
Luật Trẻ em 2016 yêu cầu xem xét ý kiến trẻ em khi xây dựng chính sách có tác động đến trẻ; Điều 74 quy định sự tham gia của trẻ hoặc tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ tùy theo độ tuổi, với nhiều hình thức tham vấn. Các quy định này xác lập nghĩa vụ tham vấn nhưng không làm phát sinh năng lực hiến mô, tạng.
Cần phân biệt quyền được bày tỏ ý kiến, khả năng thực sự hiểu nội dung, điều kiện và rủi ro, và năng lực đưa ra sự đồng ý có giá trị pháp lý. Ba vấn đề có liên hệ nhưng không đồng nhất.
Một trẻ 7 tuổi có thể hiểu việc giúp đỡ người khác; điều đó không đủ để suy ra trẻ có khả năng đánh giá toàn diện thủ thuật lấy tế bào gốc tạo máu, chết não, quyền thay đổi ý chí hoặc hậu quả pháp lý liên quan.
2. Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015
Điều 21 Bộ luật Dân sự phân định năng lực hành vi dân sự theo độ tuổi. Nguyên tắc này cho thấy mức độ tự chủ pháp lý có quan hệ với độ tuổi, nhận thức và tính chất hành vi. Song hiến mô, bộ phận cơ thể là quyết định nhân thân chịu điều chỉnh của luật chuyên ngành và tiêu chuẩn đạo đức y sinh, không phải giao dịch dân sự thông thường.
Việc trẻ trả lời “đồng ý” trong một khảo sát chính sách không thể được xem là sự đồng ý hợp pháp để thực hiện hoạt động hiến.
3. Giới hạn bảo vệ của Luật năm 2006
Điều 5 Luật số 75/2006/QH11 quy định người từ đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể khi còn sống, sau khi chết và hiến xác. Khoản 5 Điều 11 nghiêm cấm lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống dưới 18 tuổi.
Quốc hội có quyền sửa đổi giới hạn này nếu có cơ sở khoa học và thực tiễn phù hợp. Tuy nhiên, thay đổi giới hạn bảo vệ phải đi kèm chứng minh về sự cần thiết của từng ngoại lệ, các nguy cơ với người hiến, phương án thay thế và khả năng giám sát.
Không thể chỉ dựa trên tỷ lệ đồng thuận trong khảo sát để mở rộng phạm vi hành vi mà luật hiện hành hạn chế.
IV. PHẢN BIỆN PHƯƠNG PHÁP LẤY Ý KIẾN TRẺ EM TỪ 7 TUỔI
1. Vấn đề không chỉ là độ tuổi, mà là bản chất câu hỏi
Tôi không đồng tình với việc hỏi trực tiếp trẻ nhỏ về sự đồng ý hiến mô, tạng nếu mục đích hoặc cách sử dụng kết quả có thể khiến câu trả lời được hiểu là sự chấp thuận có nhận thức đối với hành vi hiến tặng. Những khái niệm chết não, chết tuần hoàn, tế bào gốc, rủi ro thủ thuật hay quyền rút lại nguyện vọng cần mức độ giải thích rất khác nhau. Ngay cả người trưởng thành cũng cần tư vấn chuyên môn để hiểu đầy đủ.
Vì thế, khảo sát phải đo được không chỉ khả năng trả lời mà còn khả năng hiểu câu hỏi. Một tỷ lệ lớn câu trả lời “đồng ý” không có giá trị chứng minh năng lực nếu không xác minh được người tham gia đã hiểu gì.
2. Nguy cơ dẫn dắt tâm lý và “đồng thuận cảm xúc”
Giả sử trẻ được hỏi: “Em có đồng ý hiến mô, tạng để cứu sống người bệnh hay không?” Câu hỏi này có thể khơi gợi tình thương và mong muốn giúp đỡ. Nếu bổ sung thông tin về gây mê, thủ thuật, nguy cơ sức khỏe hoặc quyền từ chối, câu trả lời có thể thay đổi.
Người tổ chức phải kiểm tra tính trung lập của câu hỏi, nguy cơ dẫn dắt và tác động từ người giải thích. Nội dung thông tin trước khi khảo sát cũng phải được chuẩn hóa để tránh định hướng suy nghĩ của trẻ.
3. Giá trị phù hợp của khảo sát xã hội học
Khảo sát xã hội học có thể hữu ích khi nhằm tìm hiểu mức độ nhận biết, nỗi lo ngại, nhu cầu giáo dục hoặc cách trẻ hiểu quyền được bảo vệ. Nhưng nếu kết quả dùng để kết luận rằng trẻ đồng ý mở rộng quyền hiến, cần phản biện giá trị khoa học và pháp lý.
Khảo sát nhận thức không phải thủ tục đồng ý hiến mô, tạng; sự đồng thuận xã hội không thay thế đánh giá tính hợp pháp, tính an toàn và tính cần thiết của chính sách.
V. XUNG ĐỘT LỢI ÍCH GIỮA CHA MẸ, NGƯỜI ĐẠI DIỆN VÀ TRẺ EM
Rủi ro đáng chú ý xuất hiện khi người chưa thành niên được đề nghị hiến mô cho người thân. Ví dụ, người con lớn mắc bệnh hiểm nghèo cần tế bào gốc tạo máu; người con nhỏ phù hợp để hiến. Cha mẹ phải bảo vệ cả hai con nhưng có thể chịu áp lực cứu người con đang bệnh. Xung đột lợi ích khách quan vẫn có thể xảy ra dù cha mẹ thiện chí.
Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015 xác định cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên; Điều 141 quy định phạm vi đại diện và nguyên tắc thực hiện giao dịch vì lợi ích người được đại diện. Quy định về đại diện không trao quyền định đoạt tuyệt đối đối với thân thể con.
Đối với hiến mô, luật chuyên ngành phải quy định điều kiện riêng. Khi cha/mẹ đồng thời là người nhận, chữ ký đồng ý của gia đình không đủ để loại trừ xung đột lợi ích.
Cơ chế bảo vệ cần bao gồm đánh giá sức khỏe và tâm lý độc lập; sàng lọc áp lực và cưỡng ép; thẩm định tính cần thiết, phương pháp thay thế; quyền từ chối, quyền rút lại; giám sát độc lập với gia đình và nhóm điều trị người nhận.
VI. PHÂN BIỆT HIẾN TẠNG SỐNG VỚI HIẾN MÔ TÁI SINH
Bảng 3. Phân loại đối tượng hiến và định hướng pháp lý
| Hình thức | Đặc điểm y khoa/pháp lý | Định hướng đề xuất | Bảo vệ tối thiểu |
|---|---|---|---|
| Hiến bộ phận cơ thể khi đang sống | Can thiệp có thể dẫn đến hậu quả sức khỏe lâu dài | Tiếp tục cấm đối với người dưới 18 tuổi | Không tạo ngoại lệ chung |
| Hiến tế bào gốc tạo máu / mô tái sinh | Mô có khả năng tái tạo nhưng thủ thuật vẫn có nguy cơ | Chỉ nghiên cứu ngoại lệ rất hẹp khi không có nguồn hiến trưởng thành phù hợp | Giám sát độc lập, quyền phản đối, đánh giá y khoa và tâm lý |
| Ghi nhận nguyện vọng hiến sau khi chết | Khác bản chất với lấy mô khi đang sống | Có thể nghiên cứu cơ chế ghi nhận nguyện vọng tương lai | Quyền thay đổi/rút lại, vai trò cha mẹ, xác định chết độc lập |
1. Hiến bộ phận cơ thể khi đang sống
Hiến thận, một phần gan hoặc bộ phận cơ thể khác có thể gây hậu quả y khoa lâu dài, tùy tình trạng sức khỏe và phương pháp can thiệp. Người chưa thành niên khó có thể được mặc nhiên coi là đủ khả năng đánh giá toàn diện các nguy cơ đó.
Tôi ủng hộ tiếp tục duy trì quy định cấm lấy bộ phận cơ thể từ người dưới 18 tuổi đang sống tại Việt Nam. Đây là lựa chọn bảo vệ nghiêm ngặt theo pháp luật Việt Nam, không phải tuyên bố rằng mọi hệ thống pháp luật quốc tế đều tuyệt đối cấm mọi ngoại lệ.
2. Hiến mô tái sinh
Mô tái sinh, trong đó có tế bào gốc tạo máu, khác với hiến thận hoặc một phần gan. Tế bào gốc tạo máu có thể được lấy từ tủy xương hoặc máu ngoại vi theo phương pháp chuyên môn. Khả năng tái tạo không có nghĩa người hiến không chịu rủi ro: nguy cơ có thể liên quan gây mê, thuốc huy động tế bào, thủ thuật, sức khỏe và tâm lý.
Vì thế, khái niệm “mô tái sinh” không được tự động coi là ngoại lệ miễn trừ tiêu chuẩn bảo vệ người chưa thành niên.
3. Ngoại lệ hiến cho anh, chị, em ruột
Một số nước cho phép trẻ hiến tế bào gốc tạo máu cho anh/chị/em ruột khi không có người hiến trưởng thành phù hợp và người nhận có triển vọng hưởng lợi điều trị. Việc cấm toàn bộ mô tái sinh cũng có thể ảnh hưởng đến cơ hội điều trị của bệnh nhi thiếu nguồn hiến thay thế.
Nếu Việt Nam xem xét, chỉ nên nghiên cứu phạm vi hẹp nhất như tế bào gốc tạo máu cho anh/chị/em ruột, sau đánh giá y khoa và đạo đức độc lập, không mở rộng đồng loạt cho mọi thành viên gia đình chỉ vì quan hệ huyết thống.
Quan hệ gia đình không tự nó chứng minh rằng việc hiến phù hợp với lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên.
VII. CHUẨN MỰC QUỐC TẾ: WHO VÀ KINH NGHIỆM BẢO VỆ TRẺ HIẾN
1. Nguyên tắc hướng dẫn số 4 của WHO
WHO Guiding Principle 4 đặt nguyên tắc chung hạn chế lấy tế bào, mô hoặc bộ phận cơ thể từ người chưa thành niên còn sống, ngoại trừ những trường hợp hẹp được pháp luật quốc gia cho phép. WHO yêu cầu có biện pháp bảo vệ đặc biệt; nếu cha mẹ/người giám hộ có xung đột lợi ích, cần sự thẩm định của cơ quan độc lập; và sự phản đối của trẻ đối với việc hiến phải được ưu tiên so với sự đồng ý của chủ thể khác.
WHO cũng đề cập ngoại lệ hiến tế bào tái sinh trong gia đình và trường hợp rất đặc thù ghép thận giữa cặp song sinh cùng trứng. Vì vậy, chủ trương Việt Nam tiếp tục cấm hiến tạng sống ở người dưới 18 tuổi là lựa chọn lập pháp nghiêm ngặt, không nên gán thành lệnh cấm tuyệt đối toàn cầu.
2. Kinh nghiệm Hoa Kỳ
Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) đã nêu tiêu chí đạo đức đối với trẻ hiến tế bào gốc tạo máu: không có người hiến trưởng thành tương thích và sẵn sàng; mối quan hệ tích cực giữa người hiến và người nhận; người nhận có triển vọng hưởng lợi; rủi ro sức khỏe, tâm lý được giảm thiểu; sự cho phép phù hợp của cha mẹ và việc lắng nghe ý chí trẻ. AAP khuyến nghị có người bảo vệ quyền lợi người hiến độc lập với nhóm trực tiếp điều trị người nhận.
3. Kinh nghiệm Vương quốc Anh
Human Tissue Authority (HTA) có cơ chế đánh giá độc lập đối với trường hợp hiến tủy xương hoặc tế bào gốc máu ngoại vi khi người hiến là trẻ chưa đủ năng lực tự đồng ý. Người đánh giá được công nhận phỏng vấn các bên, chuyển thông tin để cơ quan có thẩm quyền xem xét. Mục tiêu không phải chỉ thu đủ chữ ký mà phải bảo vệ lợi ích riêng của người hiến.
VIII. HIẾN SAU KHI CHẾT: MỘT VẤN ĐỀ PHÁP LÝ KHÁC
Đăng ký nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết không đồng nhất với lấy mô từ người chưa thành niên đang sống. Khi chết não hoặc chết tuần hoàn đã được xác định theo pháp luật, vấn đề chủ yếu liên quan quyền nhân thân, ý chí hiến, đạo đức y sinh và thủ tục xác định chết.
Có thể nghiên cứu cơ chế ghi nhận nguyện vọng hướng tới tương lai, nhưng phải giải quyết rõ: độ tuổi ghi nhận; hiệu lực tại thời điểm đăng ký; quyền thay đổi/rút lại; hậu quả khi từng phản đối; vai trò cha mẹ/người giám hộ; quy trình xác định chết độc lập với quyết định lấy, ghép.
Một câu trả lời khảo sát xã hội học không thể biến thành đăng ký nguyện vọng hiến có hiệu lực pháp lý.
IX. PHẢN BIỆN CÁC LẬP LUẬN ỦNG HỘ MỞ RỘNG ĐỐI TƯỢNG HIẾN
Bảng 4. Ma trận phản biện pháp lý
| Lập luận đưa ra | Phản biện pháp lý | Yêu cầu chứng minh |
|---|---|---|
| “Trẻ em có quyền được lấy ý kiến.” | Quyền tham gia được công nhận; không đồng nghĩa mọi hình thức khảo sát đều phù hợp mọi tuổi. | Thiết kế câu hỏi và tiêu chí hiểu phù hợp lứa tuổi |
| “Khảo sát không phải đăng ký hiến.” | Đúng về thủ tục; nhưng cần kiểm soát mục đích sử dụng kết quả. | Kết quả có được dùng chứng minh đồng thuận mở rộng quyền hiến không? |
| “Hiến mô, tạng là hành động nhân đạo.” | Mục tiêu nhân đạo không thay thế quyền lợi, an toàn và sự tự nguyện của người hiến. | Cân bằng lợi ích người nhận và người hiến |
| “Cha mẹ đã đồng ý thì có thể cho trẻ hiến.” | Cha mẹ có thể có xung đột lợi ích, chịu áp lực tình cảm. | Cơ chế bảo vệ và phê duyệt độc lập |
| “Mô tái sinh nên không đáng lo.” | Có khả năng tái tạo nhưng thủ thuật vẫn tiềm ẩn nguy cơ. | Đánh giá theo loại mô, kỹ thuật và sức khỏe trẻ |
| “Nước ngoài đã cho phép.” | Phải tham khảo đồng bộ cả điều kiện, giám sát và chế tài. | Cơ chế nào có thể áp dụng được tại Việt Nam? |
X. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN DỰ THẢO LUẬT
1. Đối với việc lấy ý kiến trẻ em
Không sử dụng câu trả lời đồng ý hiến của trẻ nhỏ làm bằng chứng về năng lực quyết định hiến hoặc căn cứ duy nhất để mở rộng đối tượng hiến. Công khai mục đích, bảng hỏi, độ tuổi, phương pháp chọn mẫu, mức độ hiểu và cách sử dụng kết quả. Với vấn đề vượt quá khả năng nhận thức của trẻ nhỏ, cần kết hợp đại diện tiếng nói trẻ em, chuyên gia luật, y, tâm lý và bảo vệ trẻ em.
2. Đối với hiến bộ phận cơ thể khi còn sống
Tiếp tục duy trì giới hạn không lấy bộ phận cơ thể của người dưới 18 tuổi khi còn sống, theo định hướng bảo vệ nghiêm ngặt quyền nhân thân và an toàn sức khỏe.
3. Đối với hiến mô tái sinh
Nếu nghiên cứu ngoại lệ, phải cực kỳ hẹp và dựa trên chứng cứ y khoa, đánh giá tác động độc lập, nhất là với hiến tế bào gốc tạo máu cho anh/chị/em ruột khi không có người trưởng thành phù hợp.
Điều kiện cần luật hóa: chứng minh nhu cầu và lợi ích điều trị; đánh giá nguy cơ; người bảo vệ trẻ độc lập; đồng ý của người đại diện đúng điều kiện; lắng nghe và tôn trọng sự phản đối của trẻ; phê duyệt độc lập khi xung đột lợi ích; chăm sóc và theo dõi hậu hiến.
4. Đối với ghi nhận nguyện vọng sau khi chết
Phân biệt nguyện vọng với sự đồng ý có hiệu lực, quy định rõ xác minh nguyện vọng, quyền thay đổi, quyền rút lại, vai trò người đại diện và điều kiện lấy mô sau khi chết hợp pháp.
5. Đối với trách nhiệm giải trình lập pháp
Ban soạn thảo cần công bố: cơ sở độ tuổi khảo sát; đánh giá tác động cho từng nhóm; dữ liệu nhu cầu không có người hiến trưởng thành; các giải pháp điều trị thay thế; mô hình cơ quan bảo vệ độc lập; trách nhiệm pháp lý khi gây tổn hại cho người hiến. Đây phải là căn cứ trọng tâm, thay vì số lượng hoặc tỷ lệ trả lời đồng ý.
XI. KẾT LUẬN – KHÔNG THỂ CHUYỂN TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ TRẺ EM SANG CHÍNH TRẺ EM
Tôi đồng tình với những quan ngại của Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan về nguy cơ người chưa thành niên bị tác động, gây sức ép hoặc không nhận thức đầy đủ hậu quả của việc hiến mô, bộ phận cơ thể.
Quyền bày tỏ ý kiến không đồng nghĩa năng lực tự quyết đối với mọi hành vi liên quan thân thể. Cần phân biệt hiến bộ phận cơ thể khi đang sống, hiến mô tái sinh và hiến sau khi chết; không thể dùng một cơ chế đồng ý chung cho tất cả.
Việc mở rộng nguồn hiến để cứu người bệnh là mục tiêu chính đáng, nhưng không thể thay thế trách nhiệm chứng minh tính cần thiết, tính an toàn và hiệu quả của từng biện pháp. Quyền lợi của người chưa thành niên phải được bảo vệ ngay cả khi người ảnh hưởng đến quyết định của trẻ là người thân.
Pháp luật không chỉ bảo vệ trẻ em khi các em biết nói “không”, mà còn phải bảo vệ các em khi các em chưa đủ khả năng hiểu tại sao mình cần nói “không”.
Một chính sách nhân đạo phải bảo vệ được cả người cần nhận mô, tạng và người có thể trở thành người hiến. Không thể lấy sự đồng thuận cảm xúc của trẻ em thay thế trách nhiệm lập pháp, khoa học và nghĩa vụ bảo vệ của Nhà nước. Trách nhiệm bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của trẻ em thuộc về Nhà nước, gia đình và xã hội; không thể chuyển trách nhiệm ấy sang chính các em.
LUẬT SƯ ĐINH XUÂN HỒNG
Công ty Luật TNHH Luật Sư Riêng
TÀI LIỆU PHÁP LÝ VÀ CHUYÊN MÔN THAM KHẢO
- Hiến pháp năm 2013, Điều 20, Điều 37.
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, Điều 21, 33, 136, 141.
- Luật Trẻ em số 102/2016/QH13, Điều 1, 5, 34, 74.
- Luật số 75/2006/QH11, Điều 4, 5 và khoản 5 Điều 11: Văn bản Chính phủ.
- Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, Điều 3, Điều 12: UNICEF.
- WHO Guiding Principles on Human Cell, Tissue and Organ Transplantation, đặc biệt Nguyên tắc 4: WHO.
- American Academy of Pediatrics, Children as Hematopoietic Stem Cell Donors, Pediatrics, 2010.
- Human Tissue Authority (United Kingdom), hướng dẫn về hiến tủy xương và tế bào gốc máu ngoại vi.
- Bộ Y tế giải trình ngày 23/10/2026; thông tin phiên thẩm tra ngày 21/10/2026.
Lưu ý: Bài viết thể hiện quan điểm nghiên cứu và phản biện pháp lý đối với dự thảo được công bố đến 31/10/2026, không phải kết luận về văn bản luật đã được thông qua.



